Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc có diễn biến ngày càng phức tạp và đa dạng, từ việc tổ chức, cung cấp địa điểm đánh bạc trực tiếp đến việc lợi dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông và các nền tảng công nghệ khác để thực hiện hành vi phạm tội với quy mô lớn, tính chất chuyên nghiệp. Hiện nay, tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” được quy định cụ thể tại Điều 322 Bộ luật Hình sự với nhiều điểm tiến bộ, đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc đấu tranh phòng, chống đối với tội này. Tuy nhiên, khi áp dụng quy định về tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” vào thực tế thì vẫn phát sinh nhiều vướng mắc, đặc biệt trong việc xác định hành vi tổ chức, vai trò của các đối tượng tham gia và việc thu thập chứng cứ trong môi trường mạng. Tài liệu này được xây dựng nhằm hệ thống hóa các nguồn hướng dẫn quan trọng, tạo trục tham chiếu thống nhất cho nghiên cứu và thực hành pháp lý.
1. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025
Điều 322. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc
1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;
b) Sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;
c) Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên;
d) Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc; sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc;
đ) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc hành vi quy định tại Điều 321 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 321 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên;
c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội;
d) Tái phạm nguy hiểm.
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Điều 53. Tái phạm, tái phạm nguy hiểm
1.Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.
2.Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:
a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;
b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.
2. Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình
Điều 36. Hành vi đánh bạc trái phép
…
4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh bạc sau đây:
a) Rủ rê, lôi kéo, tụ tập người khác để đánh bạc trái phép nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
b) Dùng nhà, chỗ ở, phương tiện, địa điểm khác của mình hoặc do mình quản lý để chứa chấp việc đánh bạc nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
c) Đặt máy đánh bạc, trò chơi điện tử trái phép;
d) Tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 5 Điều này.
5. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh đề sau đây:
a) Làm chủ lô, đề nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
b) Tổ chức sản xuất, phát hành bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề;
c) Tổ chức mạng lưới bán số lô, số đề nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
d) Tổ chức cá cược trong hoạt động thi đấu thể dục thể thao, vui chơi giải trí hoặc dưới các hoạt động khác để đánh bạc, ăn tiền nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
6. Hình thức xử phạt bổ sung:
a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1; khoản 2; các điểm a và b khoản 3; các điểm c và d khoản 4 và khoản 5 Điều này;
…
c) Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng để quyết định áp dụng hình thức xử phạt trục xuất đối với người nước ngoài thực hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại điểm đ khoản 3, các điểm c và d khoản 4, khoản 5 Điều này.
7. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1; khoản 2; các điểm a và b khoản 3; các điểm b, c và d khoản 4 và khoản 5 Điều này.
3. Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của BLHS
Điều 2. Về một số quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự
1. Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc thuộc một trong các trường hợp sau đây là “với quy mô lớn”:
a) Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trong cùng một lúc cho từ mười người đánh bạc trở lên hoặc cho từ hai chiếu bạc trở lên mà số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.
b) Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc; khi đánh bạc có phân công người canh gác, người phục vụ, có sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện như ô tô, xe máy, xe đạp, điện thoại… để trợ giúp cho việc đánh bạc;
c) Tổng số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trong cùng một lần có giá trị từ 20.000.000 đồng trở lên.
2. Người tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc thuộc trường hợp chưa đến mức được hướng dẫn tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này, nếu tổng số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì tuy họ không phải chịu trách nhiệm hình sự về “tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nhưng họ phải chịu trách nhiệm hình sự về đồng phạm tội đánh bạc.
3. “Thu lợi bất chính lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn” được xác định như sau:
a) Thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng là thu lợi bất chính lớn.
b) Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 90.000.000 đồng là thu lợi bất chính rất lớn.
c) Thu lợi bất chính từ 90.000.000 đồng trở lên là thu lợi bất chính đặc biệt lớn.
4. Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS
6. Vềtình tiết “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” quy định tại một số điều luật của BLHS
6.1. Đối với các tội mà điều luật có quy định tình tiết “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” và đã được hướng dẫn tại các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan có thẩm quyền thì thực hiện theo đúng hướng dẫn của các văn bản đó.
6.2. Đối với các tội mà điều luật có quy định tình tiết “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” nhưng chưa có hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền thì phân biệt như sau:
a. Đối với điều luật quy định một tội (tội đơn) thì “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” là trước đó một người đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi được liệt kê trong tội đó bằng một trong các hình thức xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà lại thực hiện một trong những hành vi được liệt kê trong tội đó.
Ví dụ: A đã bị xử phạt hành chính về hành vi đặt chướng ngại vật trên đường sắt để cản trở giao thông đường sắt, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính, A lại thực hiện một trong các hành vi (đặt chướng ngại vật trên đường sắt; làm xê dịch ray, tà vẹt; khoan, đào, xẻ trái phép nền đường sắt, mở đường trái phép qua đường sắt…) quy định tại Điều 209 của BLHS để cản trở giao thông đường sắt.
b. Đối với điều luật quy định nhiều tội khác nhau (tội ghép) thì “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” là trước đó một người đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi được liệt kê trong một tội tại điều luật đó bằng một trong các hình thức xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà lại thực hiện một trong những hành vi được liệt kê trong tội đó (không bao gồm các hành vi được liệt kê trong tội khác cũng tại điều luật đó).
Ví dụ: Điều 164 của BLHS quy định tội làm tem giả, vé giả, tội buôn bán tem giả, vé giả. Trường hợp B đã bị xử phạt hành chính về hành vi làm tem giả, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính, B lại làm vé giả thì bị coi là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”; nếu B chỉ buôn bán tem, vé giả thì không coi là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”.
5. Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 của BLHS.
Điều 3. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
[…]
2. Người phạm tội tự nguyện nộp lại ít nhất một phần hai số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội hoặc tiền phạt bổ sung theo bản án, quyết định của Tòa án.
[…]
Điều 4. Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự
Chú thích bổ sung: Trích dẫn ở đây mang tính tham khảo về “khái niệm” về một số tính tiết định khung hình phạt của Điều 322. Các tình tiết đã được BLHS quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.
[…]
2. “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội từ 05 lần trở lên (không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích) và người phạm tội lấy khoản lợi bất chính thu được từ việc phạm tội làm nguồn thu nhập.
Ví dụ: Đặng Hồng H không nghề nghiệp, lười lao động, thường xuyên ăn chơi, cờ bạc dẫn đến nợ nần. Để có tiền tiêu xài và trả nợ từ tháng 10/2023 đến tháng 09/2024, H thực hiện 10 vụ trộm cắp tài sản (mỗi vụ từ 10.000.000 đồng trở lên) với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt được là 500.000.000 đồng. Trường hợp này, Đặng Hồng H bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[…]
8. ‘‘Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là những trường hợp phạm tội quy định tại Điều 53 của Bộ luật Hình sự.
Ví dụ: Tháng 6/2024, Nguyễn Văn A đã bị kết án 06 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản (đã chấp hành xong hình phạt). Tháng 10/2025, Nguyễn Văn A lại tiếp tục trộm cắp xe máy với trị giá 20.000.000 đồng. Trường hợp này, Nguyễn Văn A bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[…]
6. Công văn số 851/VKSTC-V2 ngày 23/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc giải đáp, hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết các vụ án đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc
Câu hỏi 1: Về truy cứu trách nhiệm hình sự của thư ký ghi số đề vừa chuyển một phần cho chủ đề vừa giữ lại để ăn thua trực tiếp đối với các con bạc thì bị xử lý về tội gì?
Trả lời: Hành vi thư ký giữ lại một phần lô để ăn thua trực tiếp đối với các con bạc thì xử lý về tội Đánh bạc theo Điều 321 Bộ luật hình sự. Hành vi thư ký chuyển một phần lô để cho chủ đề thì xử lý về tội Tổ chức đánh bạc hoặc tội Đánh bạc quy định tại Điều 321 hoặc Điều 322 Bộ luật hình sự với vai trò đồng phạm.
Câu hỏi 2: Về hành vi bán số đề của một người mà trực tiếp người này ăn thua với người chơi đề, trong đó có ngày thu được số tiền bán đề trên 20 triệu đồng, có ngày dưới 20 triệu đồng. Vậy xử lý người này về một tội Tổ chức đánh bạc hay cả hai tội Đánh bạc và tội Tổ chức đánh bạc?
Trả lời: Mặc dù số tiền trên 20 triệu đồng dù định lượng được quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự, nhưng về bản chất người này ghi đề để trực tiếp ăn thua với các người chơi đề, do đó xử lý về tội Đánh bạc theo quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự.
Câu hỏi 3: Đối tượng đăng nhập vào tài khoản của mình trên trang Website để cá độ bóng đá, chơi bài, đặt cược nhiều lần mà mỗi lần đặt cược đều dưới 5 triệu đồng, nhưng tổng số tiền các lần đặt cược trên 5 triệu đồng thì có cấu thành tội Đánh bạc không?
Trả lời: Một lần đánh bạc trực tuyến trên trang Website để cá độ bóng đá, chơi bài… được tính kể từ khi đăng nhập đến khi đăng xuất tài khoản ra khỏi trang Web hoặc phần mềm đó. Số tiền đánh bạc là tổng số tiền đã sử dụng đặt cược các lần trong lần đăng nhập đó.
Câu hỏi 4: Số tiền phải chịu trách nhiệm hình sự đối với những người tham gia đánh bạc bằng hình thức đá gà mà có người ghi “biện gà” khi đang diễn ra mà chưa kết thúc?
Trả lời: Việc tổ chức đánh bạc, đánh bạc thông qua đá gà có người ghi “biện gà” đang diễn ra chưa kết thúc mà bị bắt, thì số tiền những người đá gà phải chịu trách nhiệm là số tiền mà “biện gà” đã ghi cho người đó.
Câu hỏi 5: Chủ sới gà tổ chức nhiều trận đá gà cá cược ăn tiền, nhưng mỗi trận đều dưới 5 triệu đồng. Xác định số tiền tổ chức đánh bạc như thế nào?
Trả lời: Chủ sới gà tổ chức nhiều trận đá gà, nếu tổ chức các trận có tính liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian hoặc đồng thời tổ chức trong một giải đấu có kế hoạch rõ ràng… thì phải cộng tổng số tiền cá cược của các trận đá gà, nếu tổng số tiền cá cược trên 5 triệu thì xử lý về tội đánh bạc; nếu trên 20 triệu đồng hoặc trên 10 người tham gia cá cược thì xử lý về tội Tổ chức đánh bạc. Trường hợp các trận không có tính liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian thì phải xem xét xử lý trách nhiệm theo từng trận, nếu không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự từng trận thì không xử lý hình sự.
Câu hỏi 6: Đối với tội “Gá bạc” quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự có bắt buộc phải có hành vi thu tiền hồ hay không?
Trả lời: Gá bạc cần hiểu là cho người khác sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình (nhà ở, cửa hàng, khách sạn, phòng trọ, tàu, xe, thuyền, bè…) dùng để đánh bạc trái phép nhằm mục đích thu lợi bất chính. Trường hợp không thu lợi bất chính thì xem xét về hành vi đồng phạm tội Tổ chức đánh bạc hoặc đồng phạm tội Đánh bạc.
Câu hỏi 7: Tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự: “Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phòng công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc; sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc”. Như vậy, có phải thỏa mãn hết các dấu hiệu này không?
Trả lời: Chỉ cần thỏa mãn một trong các hành vi được mô tả trong cấu thành là đủ điều kiện có thể truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội về tội Tổ chức đánh bạc.
Câu hỏi 8: Cách hiểu đúng về tính tiết “trong cùng một lần” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.
Trả lời: Một lần có thể chỉ 1 hoặc bao gồm nhiều đợt, vì vậy “trong cùng một lần” cần được hiểu là tham gia chơi trong một lô đề, tham gia cá độ trong một trận bóng đá, tham gia cá độ trong một kỳ đua ngựa… trong đó số tiền, hiện vật dùng đánh bạc để làm căn cứ xác định có cấu thành tội phạm hay không là số tiền mà tổng nhiều đợt có trị giá 20 triệu đồng trở lên.
Câu hỏi 9: Trường hợp một người nhiều lần thực hiện hành vi đánh bạc mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đều dưới 5 triệu đồng và về nhân thân người này chưa có tiền án, tiền sự về hành vi tổ chức đánh bạc, gá bạc, đánh bạc thì số tiền phải chịu trách nhiệm hình sự là 5 triệu đồng hay 100 triệu đồng?
Trả lời: Người đó phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền là 5 triệu đồng và bị truy thu cả số tiền 95 triệu đồng để sung công quỹ.
Câu hỏi 10: Trường hợp một người nhiều lần thực hiện hành vi đánh bạc mà tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 100 triệu đồng, trong đó có 1 lần đánh bạc là 5 triệu đồng, những lần còn lại mỗi lần đều dưới 5 triệu đồng và về nhân thân người này chưa có tiền án, tiền sự về hành vi tổ chức đánh bạc, gá bạc, đánh bạc thì số tiền phải chịu trách nhiệm hình sự là 5 triệu đồng hay 100 triệu đồng?
Trả lời: Người đó phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền là 5 triệu đồng và bị truy thu cả số tiền 95 triệu đồng để sung công quỹ.
Câu hỏi 11: Trường hợp một người đã bị xử phạm vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạm vi phạm hành chính nay lại tiếp tục thực hiện 03 hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc đều dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì có được áp dụng là tình tiết định tội đối với cả 03 hành vi trên hay không?
Trả lời: Trường hợp này tình tiết đã bị xử phạm hành chính được áp dụng đối với cả 03 hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự để xử lý về các tội Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc, gá bạc.
Câu hỏi 12: Trường hợp một người sử dụng các thiết bị để gian lận khi thực hiện hành vi đánh bạc nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì xử lý về tội gì?
Trả lời: Trường hợp người đánh bạc, tổ chức đánh bạc không phải vì mục đích thắng thua bằng tiền, hiện vật mà sử dụng thiết bị gian lận nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của những người tham gia đánh bạc khác thì phải xác định việc đánh bạc, tổ chức đánh bạc là phương thức, thủ đoạn để thực hiện hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Trường hợp này phải xác định hành vi này cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Câu hỏi 13: Phân biệt “trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc” và “phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự?
Trả lời: Trang thiết bị phục vụ đánh bạc là thiết bị mà đối tượng lắp đặt nhằm cảnh giới, quan sát người lạ… để đối phó, che giấu hành vi đánh bạc. Ví dụ: Camera, thiết bị ghi âm, ghi hình… Phương tiện trợ giúp cho việc đánh bạc là công cụ dùng vào việc đánh bạc. Ví dụ: tivi kết nối Internet để tải các trận đá gà trực tuyến nhằm cá cược ăn thua bằng tiền…
Câu hỏi 14: Khi thi hành lệnh bắt khẩn cấp, phát hiện đối tượng đang thực hiện phạm tội quả tang thì có lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hay không?
Trả lời: Trường hợp này lập biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đồng thời lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang để xử lý.
Câu hỏi 15: Bị can Nguyễn Văn B phạm tội “Đánh bạc” bằng hình thức xóc đĩa, với vai trò đồng phạm giản đơn, hành vi rõ ràng. Tính đến thời điểm khởi tố bị can là 17 tuổi 9 tháng 20 ngày. Do vậy, có cần tiến hành tách vụ án ngay sau khi khởi tố bị can theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên không?
Trả lời: Trường hợp này phải tiến hành tách vụ án theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Câu hỏi 16: Việc thu giữ, trích xuất dữ liệu từ điện thoại di động; máy tính cá nhân; tài khoản mạng xã hội, ứng dụng nhắn tin (Zalo, Telegram, Signal…) khi không có mặt người sử dụng hoặc không cung cấp mật khẩu, có được coi là hợp pháp không? Căn cứ pháp lý?
Trả lời: Được coi là hợp pháp, nếu đảm bảo: Có quyết định tố tụng hợp pháp (khám xét, thu giữ); việc mở khóa, trích xuất do cơ quan có chuyên môn thực hiện; lập biên bản đầy đủ, có người chứng kiến. Căn cứ: Điều 87, 88, 89, 106, 192, 195 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 26 của Luật An ninh mạng năm 2018.
Câu hỏi 17: Trường hợp dữ liệu điện tử gốc bị xóa hoặc bị thất thoát, chỉ còn bản sao, bản chụp màn hình được thu thập từ nguồn khác, thì có được coi là nguồn chứng cứ chứng minh trong vụ án theo quy định tại Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự hay không?
Trả lời: Nếu có căn cứ xác định dữ liệu điện tử này có nguồn gốc từ bản sao, bản chụp màn hình được thu thập từ nguồn khác là thông tin có liên quan đến vụ án do người có thẩm quyền tố tụng thu thập và được thu thập theo đúng trình tự tố tụng hình sự và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác (lời khai; sao kê ngân hàng; dữ liệu nhà mạng; giám định kỹ thuật số…).
Câu hỏi 18: Khi bắt giữ quả tang vụ tổ chức đánh bạc và đánh bạc, Cơ quan điều tra đã thu giữ được 01 chiếc xe máy do đối tượng tham gia đánh bạc bỏ lại khi chạy trốn. Đến khi kết thúc điều tra vụ án vẫn chưa xác định được đối tượng bỏ trốn thì Cơ quan điều tra có ra quyết định tách hành vi của đối tượng bỏ trốn kèm theo chiếc xe máy đã thu giữ để tiếp tục điều tra làm rõ hay không?
Trả lời: Nếu kết thúc điều tra vụ án vẫn chưa chứng minh được hành vi phạm tội của đối tượng đến đánh bạc bỏ trốn thì phải tách vụ án về hành vi và chiếc xe máy của đối tượng bỏ trốn để tạm đình chỉ theo Điều 170 và điểm a khoản 1 Điều 229 Bộ luật tố tụng hình sự.
Câu hỏi 19: Sau khi xét xử vụ án đánh bạc, án đã có hiệu lực pháp luật, bị can A là đối tượng trốn truy nã đã đến đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội đánh bạc của mình. Cơ quan điều tra đã phục hồi điều tra vụ án nhưng do hồ sơ gốc của vụ án bị cháy do hỏa hoạn, chỉ còn các tài liệu do Cơ quan điều tra đã sao y lưu giữ trong hồ sơ nghiệp vụ của lực lượng Công an nhân dân thì có được sử dụng nguồn tài liệu này để buộc tội đối với bị can hay không?
Trả lời: Nếu có căn cứ xác định nguồn tài liệu chứng cứ này có nguồn gốc từ hồ sơ vụ án đã xét xử thì được sử dụng làm chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội đánh bạc của bị can.
Câu hỏi 20: Đối tượng B có đơn gửi Cơ quan điều tra tố giác A có hành vi gây thương tích cho B. Kết quả xác minh xác định khi A và B cùng các đối tượng khác đánh bạc thì xảy ra mâu thuẫn, A đã dùng gậy gây thương tích cho B, bị tổn hại 9% sức khỏe. Trước khi kết thúc xác minh, B rút đơn tố giác đối với A, tài liệu thu thập đủ căn cứ chứng minh A và B phạm tội đánh bạc, Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án để điều tra về tội đánh bạc, không ra quyết định không khởi tố về hành vi cố ý gây thương tích có đúng hay không?
Trả lời: Trong trường hợp này cùng một thời điểm Cơ quan điều tra vừa thụ lý tố giác vừa giải quyết nguồn tin về tội phạm, kết quả xác minh Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án để điều tra về tội đánh bạc. Đồng thời làm thủ tục chuyển Cơ quan Công an có thẩm quyền xử phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích do người bị hại rút đơn tố giác theo quy định tại Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính.